Hành trình tìm kiếm hạnh phúc và ơn chữa lành của một người tự kỷ
Hy vọng bài chia sẻ này sẽ là một
món quà tinh thần quý giá dành cho các bậc phụ huynh có con em mắc bệnh tự kỷ
(autism), một chứng rối loạn tâm lý ngày càng phổ biến và trầm trọng.
Năm Đức Tin 2012-2013
Lời tựa
Tôi trải qua nửa đời người trong
cô đơn, bất hạnh và nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc. Ban đầu, tôi cứ đổ tội cho
chứng bệnh tự kỷ bẩm sinh và hoài phí bao nhiêu công sức truy lùng phương thức
chữa trị. Sau cùng, tôi khám phá ra, chính lòng nhát đảm và yếu tin mới là thủ
phạm ngăn cản tôi tiếp cận với hạnh phúc chân thật. Niềm tin tuyệt đối cần phải
có ấy, tôi chỉ đạt được, sau một vụ án sát nhân…
Như thế, hạnh phúc viên mãn của
một người đã được khơi nguồn từ đỉnh cao của một tội ác tột cùng và tráo đổi
bằng giá máu của ba mạng người, chưa kể nỗi đau vô tận của một người cha và một
người mẹ. Đó là một nghịch lý, một bí nhiệm mà cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa
hoàn toàn hiểu thấu…
Ngay từ
hồi còn rất bé, khoảng độ 7-8 tuổi, tôi đã sớm linh cảm nơi mình những dấu hiệu
bất thường về mặt tâm lý, khiến cho tôi trở nên dị biệt so với những đứa trẻ
cùng lứa tuổi. Tôi chỉ ý thức được điều này sau khi đám bạn cùng trường và bọn
trẻ láng giềng bắt đầu công khai châm chọc, xua đuổi, tẩy chay tôi, và bảo tôi
là “con khùng”. Tuy còn quá bé để có
thể hiểu được vì sao chúng bảo thế, tôi đã cảm thấy rất phiền não khổ đau. Tôi
ngây ngô khóc lóc với mẹ tôi. Bà an ủi tôi rằng chúng nó nói bậy, đừng tin.
Nhưng sau đó, khi tôi phạm lỗi trái ý bà, mẹ tôi đã đem hết tâm sự của tôi ra
chì chiết và giễu cợt rằng một kẻ như tôi có bị trêu chọc thì cũng đáng đời
lắm. Có lẽ, mẹ tôi chỉ vô tình, nhưng với tôi, đó là nhát dao nghiệt ngã đầu
tiên đâm thấu trái tim và để lại nỗi nhức nhối khôn nguôi cho đến khi tôi trải
qua nửa đời người.
Mãi đến
thời gian gần đây, tôi mới được biết rằng tôi mắc chứng bệnh tâm lý bẩm sinh
gọi là tự kỷ. Nói chính xác hơn, đó là tự kỷ dạng nhẹ, còn gọi là Asperger, vì
khả năng tri thức của tôi hoàn toàn bình thường, duy có kỹ năng giao tiếp bị
giới hạn thôi. Ngoài ra, tôi còn bị vài triệu chứng rối loạn hành vi khác
thường xuất hiện kèm với bệnh tự kỷ. Thêm vào đó, tôi không có diễm phúc sống
trong mái ấm gia đình nguyên vẹn và thừa hưởng tình yêu thương đầy đủ của cả
cha lẫn mẹ. Mẹ tôi, vì oán hận cha tôi đã bỏ rơi bà, luôn tỏ ra lạnh nhạt và xa
lánh tôi. Địa vị tôi càng bị hạ cấp thảm hại sau khi bà kết hôn và những đứa em
cùng mẹ khác cha lần lượt chào đời. Nói cho công bằng, tôi không bị ngược đãi
nhiều về thể xác, nhưng tinh thần tôi luôn bị nghiền nát dưới thái độ hờ hững
ghẻ lạnh hay lời lẽ nhiếc móc cay độc. Bấy nhiêu yếu tố xúc tác cộng lại càng
làm tăng tốc độ tiến triển của một căn bệnh vốn rất khó khắc phục.
Chính vì
vậy, trong khi hầu hết bạn bè đồng trang lứa vui hưởng một tuổi thơ êm đềm,
hạnh phúc, vô tư lự, thời ấu thơ của tôi là một chuỗi ngày dài bất hạnh, thê
lương, đắm chìm trong tối tăm, ảm đạm, và nước mắt. Người ta thường nhắc đến
niềm hy vọng vào tia sáng ở cuối đường hầm, nhưng tôi chỉ nhìn thấy một bóng
đêm lạnh lẽo, mịt mùng, dày đặc bao trùm khoảng không gian quanh mình, chẳng
chút dấu vết hứa hẹn mong manh vào bình minh tươi sáng. Bà ngoại là người duy
nhất yêu thương tôi. Tuy nhiên, tuổi tác cách biệt qua ba thế hệ, bà không đủ
gần gũi để thấu hiểu các tâm sự thầm kín của tôi. Hơn nữa, bà sớm giã từ tôi,
trở về với cát bụi. Thưở ấy, bệnh tự kỷ hầu như chưa hề được biết đến ở Việt
Nam. Thế là trước những biểu hiện hành vi dị thường và cung cách ứng xử quái lạ
của tôi, thiên hạ tha hồ phán đoán theo đủ kiểu đủ cách. Kẻ gán cho tôi mắc
bệnh tâm thần, người khép tôi vào tội xấu nết, hợm hĩnh, cứng đầu, bất trị, khó
dạy, thậm chí còn lên án tôi là kẻ vô luân, vô đạo. Kẻ độc địa hay khó tính,
không ngại ngần biểu lộ ác cảm đối với tôi, thẳng thừng khích bác, châm chích,
sỉ nhục tôi ngay vào mặt. Người hiền lành hay tử tế, tuy ngoài miệng tinh tế
không nói gì, nhưng lẳng lặng ném cho tôi ánh mắt ái ngại thương hại. Cả hai
thái độ ấy đều làm tổn thương tôi như nhau. Bản thân mẹ cũng vô tình chà đạp
tôi hằng ngày bằng các lời đay nghiến hằn học.
Bước vào
tuổi cập kê, trong khi các bạn gái đồng niên bắt đầu mơ mộng về duyên tình đôi
lứa, tôi chỉ thầm lặng nuôi dưỡng niềm ao ước đơn sơ là được nhìn nhận, được
trân trọng. Từ đó trở đi, tôi hăng say lùng xục khắp mọi nơi, với đủ hạng
người, đủ thứ sách vở, nhưng tuyệt nhiên không tìm được lời giải đáp thỏa đáng
cho niềm trăn trở rất đơn giản là vì sao mọi người không yêu thích tôi. Cho đến
một ngày, bao nhiêu nỗ lực tìm kiếm đều thất bại não nề. Bao nhiêu ước vọng yêu
thương đều hóa thành ảo tưởng hão huyền khi tôi chỉ được đáp trả bằng bấy nhiêu
chế nhạo, nhục mạ, và chà đạp.
Tất cả
kinh nghiệm đau thương tủi nhục của một quãng đời cần đến tình yêu thương nhiều
nhất, lại bị tước cái quyền được nếm biết yêu thương chân thật là gì, theo ngày
tháng, đã dần dà xâu xé tâm can tôi, giày xéo linh hồn tôi. Vào thời điểm nào
đó, vết thương lòng mãn tính đã biến thành một thứ ung nhọt lở loét, thối rữa,
và băng hoại đến mức không lành lặn được nữa. Những dòng lệ chua xót đã khô
cạn, bao hy vọng tràn đầy đã héo hắt và kết tủa thành nỗi trách hờn đắng ngắt.
Tôi oán hận bản thân, tôi oán hận thế giới, tôi oán hận các đấng sinh thành, và
tôi oán hận cả Đấng Tạo Hóa vì Ngài đã tạo nên hình hài tôi, thổi vào đấy một
linh hồn khát khao hạnh phúc mà lại lãng quên ban cho tôi một ngày vui! Trong
cơn đau đớn cùng tận, tôi đâm điên rồ đến mức thầm ganh tỵ với những kẻ mất
trí. Họ không biết suy nghĩ nên chẳng bao giờ biết đến khổ đau!
Quá khứ
chìm trong bể khổ, hiện tại ngập trong nước mắt, tương lai mờ khuất trong đêm
tối ảm đạm của chết chóc. Lẩn khuất trước mắt tôi là bóng ma u ám của Tử Thần
đang hăm hở vươn bàn tay xương xẩu gớm ghiếc về phía linh hồn mê man rên xiết
của tôi trong cơn hấp hối vô vọng. Trong đầu tôi chứa đầy những ý nghĩ tự sát
tăm tối nhưng hãy còn do dự chưa dám thực hiện, chỉ vì tôi băn khoăn không biết
điều gì sẽ chờ đợi tôi sau ngưỡng cửa bí ẩn của sự chết.
Giữa lúc
ấy, tôi nghe thoang thoảng bên tai tiếng gọi dịu ngọt êm ái đầu tiên của Chúa
Giêsu qua bạn bè khi tôi bước vào tuổi 17. Chưa biết Ngài là ai, tôi đã hối hả
bám bừa lấy như kẻ sắp chết đuối vớ phải phao cứu hộ. Thật sự cuốn hút bởi ý
niệm Thiên Chúa là Cha Yêu Thương, tôi đơn thân đăng ký học Giáo lý Tân Tòng
nhưng không ai ngỏ ý đỡ đầu, bởi có lẽ, chẳng ai muốn gánh trách nhiệm với một
kẻ dị thường như tôi. Cuối cùng, tôi cầu xin Đức Mẹ, và bỗng dưng, một chị nọ
hoàn toàn lạ mặt đến bắt chuyện và ngỏ ý làm đỡ đầu cho tôi. Chị cho tôi mượn
quyển sách “Một tâm hồn” của Thánh Nữ
Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Dĩ nhiên, tôi yêu thích vị Thánh đáng mến ấy ngay và
chọn Ngài làm Thánh Quan Thầy. Mọi việc diễn ra cứ như dòng chảy ngẫu nhiên của
các sự kiện tình cờ. Sau này, tôi mới dần dà vỡ lẽ. “Con đường thơ ấu thiêng liêng” chính là lối đi Chúa đã dọn sẵn cho
tôi ngay từ buổi ban đầu gặp gỡ, hầu dẫn đưa tôi đến chân trời hạnh phúc chân
thật và trường tồn sau này.
Với việc
chính thức đón nhận Đức Kytô là Sự Sáng Thế Gian, tôi đã dọ dẫm chạm tay vào
tia nắng ấm áp đầu tiên của buổi hừng đông đang ló dạng. Tuy nhiên, bầu trời
quanh tôi chưa bước hẳn vào buổi ban mai rực rỡ. Tôi vẫn còn bị giam hãm trong
khung cảnh tranh tối tranh sáng, trong buổi giao thời giữa ngày và đêm.
Qua các
linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, tôi có dịp học hỏi và nhận diện rõ ràng hơn Dung
Mạo của Đấng đã giang cánh tay uy quyền nâng tôi dậy từ đáy vực sâu của sự chết
tâm linh. Thế là tôi cuồng nhiệt băng mình vào Cung Lòng Ngài như thiêu thân
lao vào ánh sáng, như kẻ bị tiếng sét ái tình đánh ngang tai. Nhưng tôi sớm
khựng lại và dội ngược ra, khi tôi lờ mờ linh cảm về sự tồn tại của thứ rào
chắn bí ẩn sừng sững trong tâm linh, khiến cho tương quan giữa tôi và Thiên
Chúa không cách nào tiến triển xa hơn và thăng hoa trọn vẹn. Bấy giờ, tôi chưa
ý thức rõ rệt điều gì đã tạo ra các chướng ngại oái oăm ấy. Mãi về sau, tôi mới
từ từ suy gẫm ra. Thứ nhất, trong ý thức, tôi luôn khao khát Thiên Chúa, nhưng
trong tiềm thức, tôi không tài nào tin Ngài thật sự là “Cha” theo đúng nghĩa của ngôn từ ấy. Cả cha lẫn mẹ trần thế đều bỏ
rơi tôi, mọi người xung quanh không hà khắc ra mặt, cũng âm thầm thương hại.
Làm sao một người chưa bao giờ nếm biết yêu thương chân thật là gì, có thể tin
tưởng vào sự tồn tại của thứ tình yêu ấy trên đời? Thứ hai, trong ý thức, tôi
được dạy dỗ phải phó thác vào Chúa, nhưng trong tiềm thức, tôi luôn âm thầm hờn
trách Ngài, không chấp nhận sự an bài của Ngài trong cuộc sống. Tôi không hiểu
vì sao Chúa tạo ra tôi trong tình huống bệnh hoạn oan nghiệt và gia cảnh đổ vỡ
trái ngang, rồi “đem con bỏ chợ”, mặc
tôi đơn thân chới với vùng vẫy giữa dòng nước xoáy buốt giá của nhân thế bạc
bẽo, để cho cuộc đời tôi đan kết thành chuỗi ngày dài đen tối tuyệt vọng giữa
tiếng kêu thống thiết bi thương: “Thật
đáng nguyền rủa ngày tôi được sinh ra. Ngày mẹ tôi sinh ra tôi không đáng được
chúc lành.” (Gr 20,14). Vậy mà Ngài “vẫn
ngủ” (Mt 8:24), cứ như thể Ngài chẳng hề có mắt và có tai?
Trong khi
ấy, cuộc sống thực tế của tôi, tương quan của tôi với thế nhân càng ngày càng
trên đà trượt dốc. Tuy tôi bị tự kỷ dạng nhẹ, có khả năng tri thức bình thường,
nhưng các biểu hiện rối loạn hành vi đi kèm với tự kỷ nơi tôi đã làm cho kỹ
năng giao tiếp của tôi bị suy giảm nghiêm trọng so với kẻ bị tự kỷ thuần túy.
Tồi tệ đến nỗi bất cứ ai, chỉ cần gặp qua lần đầu và tiếp xúc ít phút, đã thấy
mất cảm tình với tôi rồi. Lúc nhỏ, tôi bị hầu hết bạn bè chế nhạo, ruồng rẫy,
và cô lập. Bước vào tuổi trưởng thành, tôi bị tuyệt đại đa số, từ trẻ đến già,
không lộ liễu xa lánh, ghét bỏ, cũng ngấm ngầm chê trách, không tín nhiệm. Ở
lứa tuổi phải tự lập thân, tôi có học thức nhưng không thể kiếm được việc làm,
hay có tìm ra, y như rằng, không trước thì sau đều bị đuổi. Nỗi tủi nhục thơ
ấu, nay đã trở thành vấn đề sinh tồn sống còn cho chính sự hiện hữu của tôi.
Cứ thế,
tôi lầm lũi bước đi một mình một bóng trên đường đời trong lẻ loi vô hạn và cô
độc tuyệt đối, không những giữa thế giới phàm tục, mà ngay cả trong Hội Thánh
Chúa. Kể từ ngày được thanh tẩy, tôi chưa từng có cảm giác là một thành viên
đúng nghĩa của Giáo Hội. Nhất là tôi không tìm ra một ai đủ khả năng dò thấu
tận tường những uẩn khúc bí ẩn của đời tôi, hầu có thể linh hướng cho tôi. Hơn
nữa, không ai tin tôi mắc chứng rối loạn tâm lý bẩm sinh, vì trí tuệ của tôi rất
sáng suốt và kiến thức về bệnh tự kỷ ở Việt Nam lúc ấy hãy còn rất giới hạn.
Người ta quan niệm, chỉ có những kẻ ngốc, khờ, hay mất trí mới có vấn đề trục
trặc về đầu óc. Nhiều lần tôi bị mắng nhiếc, sỉ vả ngay trong khuôn viên thánh
đường. Đây là tấn bi kịch đớn đau của một kẻ sinh ra trong tình trạng bất
thường do một căn bệnh nằm ngoài ý muốn của bản thân và vượt khỏi tầm hiểu biết
của y học đương thời! Thứ bệnh hoạn trớ trêu ấy dai dẳng đeo bám lấy tôi, không
ngừng đày đọa tinh thần tôi như án phạt cay nghiệt của một định mệnh phũ phàng.
Theo năm tháng, nó ngày một trở nên khó khăn chính yếu và hóa thành cớ vấp phạm
lớn nhất cho tôi.
Trái với
niềm mong đợi thầm lặng ban đầu của tôi, Thiên Chúa đã lạnh lùng ngoảnh mặt
trước nỗi bất hạnh cùng cực của tôi, bỏ mặc tôi bị vùi vập tứ bề giữa dòng nước
xoáy đầy phong ba, lắm đoạn trường tạo ra bởi chứng tự kỷ nghiệt ngã: “Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van
Ngài mà cũng chẳng yên.” (Tv 22:3). Ngài có đủ uy quyền làm cho kẻ chết sống
lại, nhưng vẫn một mực làm ngơ trước một vấn
đề rất hiện sinh cho sự sinh tồn của tôi và nhất quyết đòi hỏi nơi tôi lòng tin
tuyệt đối như đã có nơi Tổ phụ Abraham : “Hãy
rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta
sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi
ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.” (St
12:1-2). Tuy nhiên, tôi không có lòng can đảm mẫu mực ấy, dám dấn mình vào nẻo
đường vô định, vô cùng đích, với điểm tựa duy nhất là bảo chứng quan phòng của
một Thiên Chúa Vô Hình! Kết quả là lòng đạo của tôi ngày một nao núng chao đảo
khi tôi buộc lòng rời xa xứ sở, nương thân trên đất khách quê người, nơi tôi
phải đơn độc đương đầu với cuộc sống tự lập, xa cách quang cảnh thiêng liêng sốt
sắng quen thuộc và bị ném vào giữa lòng một thế giới vô thần thực tiễn. Một thế
giới không chối từ sự tồn tại của Đấng Tạo Hóa Vô Hình nhưng bàng quang với sự
hiện diện của Ngài, tự mãn, khép kín trong những mục đích hữu hình, sẵn có
trong tầm với mà mong manh chóng qua.
Nơi xứ
lạ, tôi tình cờ gặp gỡ cha ruột và ngỡ ngàng đối diện với người cha tỏ hết lòng
thương yêu tôi. Mặc dầu vậy, niềm vui ngọt ngào của tình phụ tử trùng phùng một
cách bất ngờ đã sớm trở nên chua chát khi cha tôi nhanh chóng nhận ra những dấu
hiệu khiếm khuyết trong kỹ năng giao tiếp nơi tôi. Cũng như bao người khác, ông
khăng khăng cho rằng tôi là kẻ bướng bỉnh cố chấp và thiếu ý chí cầu tiến. Với
tình thương vô bờ của một người cha, ông đã dành rất nhiều thời gian trò chuyện
và khuyên nhủ tôi. Tuy nhiên, ngược hẳn với kỳ vọng của cha tôi, lòng nhiệt
thành của ông càng gây thêm khủng hoảng trầm trọng cho lòng tin đã suy thoái
của tôi, qua việc phác họa một viễn tượng tương lai vô cùng đen tối, trừ phi
tôi chịu thay đổi bản thân. Một đòi hỏi hoàn toàn lực bất tòng tâm đối với tôi
bởi mọi cố gắng sửa mình chỉ khiến tôi hóa ra thêm lố bịch, kệch cỡm trong mắt
mọi người. Kết cuộc là ông đã vô ý làm tôi tổn thương nặng nề không kém gì mẹ
và đào sâu thêm nỗi mặc cảm tự ty ray rứt nơi tôi, khi đem tôi ra so sánh với
những đứa em cùng cha khác mẹ may mắn và thành đạt.
Bao nhiêu
giông tố ba đào dồn dập giáng xuống khiến tôi phải ngã quỵ trong tâm cuồng trí
loạn, bế tắc tuyệt vọng đến mức mất hẳn niềm tin tưởng và cậy trông vào Thiên
Chúa. Rời xa khỏi vòng tay yêu thương của Ngài, tôi bắt đầu nuôi dưỡng ảo tưởng
lệch lạc về chính mình, say sưa học đòi những phương thế khôn ngoan của thế tục
hòng xây dựng cho mình thứ hạnh phúc mong manh hư hoại. Chẳng mấy chốc, tâm hồn
tôi đã trượt nhanh trên con dốc bại hoại và lao thẳng xuống hố sâu diệt vong
của dục vọng thấp hèn và đam mê xấu xa. Hoa trái độc địa của lựa chọn lầm lạc
tách khỏi Thiên Chúa là sự mục ruỗng thối tha đến tận gốc rễ trong tương quan
với tha nhân khi tôi nung nấu lòng ganh ghét tồi bại và các toan tính trả đũa
hiểm ác một khi quyền lợi riêng tư bị đe dọa. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn
không thể ngờ rằng tâm hồn tôi từng có lúc biến thái đến mức dám dung dưỡng cả
ý định sát nhân vào lúc các bám víu điên cuồng có nguy cơ vuột khỏi tầm tay.
Hóa ra sự khác biệt giữa tội phạm và công chính, đôi khi chỉ là lằn ranh giới
mong manh của một giây phút được Thiên Chúa đoái thương gìn giữ. Thật là sự hư
hỏng tận căn, sự vong thân tận gốc của một kẻ “có gì mà đã không nhận lãnh”, lại “vênh vang như thể đã không nhận lãnh” (1Cr 4:7).
Hệ lụy
kinh hoàng tất yếu của lối sống dị dạng làm nô lệ cho Thần Tối Tăm là những
ngày dài lê thê vô định hướng và những đêm trường thăm thẳm lắm ác mộng. Tôi cố
xua tan mọi thứ bất ổn tinh thần bằng cách lẩn tránh Thiên Chúa tối đa trong
lời nói, hành vi và suy tưởng. Nhưng làm sao tôi có thể quên lãng Ngài, vì Ngài
là Đấng hằng bao bọc mọi ngày đời của tôi. Ngài vẫn hằng hữu trong các ngóc
ngách thâm sâu u uẩn nhất của tâm hồn tôi, kiên nhẫn im lặng và chờ đợi: “Ði mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi
nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm
ty, vẫn gặp thấy Ngài.” (Tv 139:7-8). Chưa đến 30 tuổi, tôi đã sợ chết, một
thứ sợ hãi bệnh hoạn của một thụ tạo được tiền định vui hưởng Tôn Nhan Đấng Tạo
Thành, lại khiếp hãi phải diện đối diện với Ngài trong buổi phán xét cánh
chung. Nói chính xác hơn, đó là quãng đời khủng khiếp khóc lóc nghiến răng dưới
ngọn lửa thiêu đốt của Hỏa Ngục nơi trần gian. Thời gian ấy quả là những ngày
tháng đen tối nhất của cuộc đời tôi, đen tối hơn cả một tuổi thơ thiếu vắng yêu
thương và chưa biết Danh Thánh Chúa.
Cuối
cùng, tôi đã trở về như người con hoang đàng ngày xưa. Có khác là, người con ấy
tự mình tìm về nhà cha. Phần tôi, tôi đã quá kiệt sức trên đường đời đầy gai
chông, lắm phũ phàng. Tôi không còn chút sức lực nào, dầu là lê lết tấm thân
tàn tạ dưới mặt đường bùn nhầy, để quay ngược về với Ngài. Bao nhiêu lần, tôi
tự nhủ thầm: “Thôi, ta đứng lên, đi về
cùng cha.” (Lc 15:18). Mặc dầu vậy, quán tính của một thứ mặc cảm khốn khổ
cứ trì kéo bước chân tôi: “Thưa cha, con
thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.” (Lc
15:18-19). Thế nhưng, “Ai có thể tách
chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô?” (Rm 8:35). Thiên Chúa đã không bỏ
rơi tôi! Ngài là Đấng đã yêu thương tôi từ ngàn đời và từ muôn thưở Ngài đã cất
bước tìm kiếm tôi. Ngài đã sai hai thiên thần đến bồng bế tôi về.
Một linh
mục Dòng Tên tình cờ học chung khóa hè ở Đại học và trở thành bạn học của tôi.
Người thứ hai là chủng sinh vừa được nhận vào Chủng Viện. Trong lúc chờ nhập
học, thầy không có chỗ ở và ngẫu nhiên trở thành bạn chung nhà với tôi. Chồng
tương lai, tuy là người bên lương, cũng gián tiếp góp tay thức tỉnh tôi bằng
tấm lòng chân thành, trong sáng, và ngay thẳng của anh. Chính nhờ bối cảnh đặc
biệt ấy, lần đầu tiên trong đời, tôi bỡ ngỡ đón nhận ánh mắt cảm thông sâu xa
chân thật của con người hữu hình, qua đó, tôi hoan hỉ bắt gặp tia nhìn tha thứ
bao dung của Thiên Chúa Vô Hình. Đó là ơn tha thứ hoàn toàn nhưng không của
Đấng là Cha Nhân Hậu và Thương Xót, như người cha trong dụ ngôn Tình Phụ Tử,
ngày ngày nhẫn nại ngóng trông con và khi gặp lại đứa con hư hỏng trong tình
trạng rách nát tả tơi, ông không hề trách móc, chất vấn, hay hạch tội, trái
lại, “ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm
chồm anh ta và hôn lấy hôn để.” (Lc 15:20).
Trở về
với Cha Trên Trời, tôi được đón mừng nồng nhiệt bằng một chuỗi ân huệ lớn lao
làm hé mở cánh cửa hạnh phúc đầu đời cho tôi. Căn bệnh tự kỷ chưa hồi phục toàn
diện, nhưng đã giảm bớt phần nào, đủ cho tôi có thể lập gia đình, hưởng cuộc
hôn nhân đầm ấm và trúng tuyển vào công chức, làm việc trong môi trường dễ dãi,
ổn định hơn. Hạnh phúc bắt đầu mỉm cười với tôi, mặc dầu vậy, vẫn chưa tròn
đầy. Tình nghĩa phu thê đong đầy, tuy cấu thành nhân tố quan trọng giúp tôi duy
trì sự cân bằng tâm lý, nhưng chưa đủ thỏa mãn cơn đói khát yêu thương vô hạn
nơi tôi. Mặt khác, các rào cản tâm linh tiếp tục tồn tại như vật ngăn trở u ám
giữa tôi và Thiên Chúa, khiến cho tôi không sao khỏa lấp nỗi khắc khoải được
hiệp nhất trọn vẹn với Đấng là Suối Nguồn của Yêu Thương: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong
được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng
sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42:2-3).
Rồi đến
những ngày tôi thai nghén và sinh hạ bé gái đầu tiên. Kỳ diệu thay, hàng rào
ngăn cách kiên cố thứ nhất đối với Thiên Chúa đã dần dần đổ sụp một cách nhiệm
mầu, vì lần đầu trong đời, tôi có diễm phúc nếm biết thế nào là hương vị ngọt
ngào thơm ngát của tình thương yêu chân thật. Lạ lùng hơn nữa, không phải tôi
được yêu thương như tôi hằng mơ ước. Lần này, chính bản năng làm mẹ đã thôi
thúc tôi tự nguyện trao cho sinh linh bé nhỏ kia tình thương mến vô bờ, vô điều
kiện, bằng toàn bộ thực thể của mình. Nhờ đấy, tôi mới chập chững đo lường
xuyên suốt các chiều kích bao la nơi tình yêu thương của Người Cha Thiên Quốc,
Đấng đã “đếm từng cọng tóc” trên đầu
của tôi (Mt 10:30) và xác tín rằng tình yêu ấy hằng hữu trên đời. Vài năm sau,
thêm một bé trai chào đời. Cứ thế, tôi say sưa tận hưởng hồng phúc làm mẹ, qua
đấy, Dung Mạo Yêu Thương đích thật của Cha Trên Trời được mạc khải cách trọn
hảo cho tôi.
Bản năng
mẫu tử thiêng liêng không những góp phần xóa bỏ một lớp rào chắn và cải thiện
hẳn mối tương quan giữa tôi và Thiên Chúa, mà còn giúp tôi giải tỏa nỗi trách
hờn âm thầm cay đắng đối với người mẹ trần thế khô cằn lạt lẽo. Câu châm ngôn
dân gian: “Có sinh con, mới biết lòng cha
mẹ” quả không sai chút nào. Mãi đến khi đích thân dấn mình vào cuộc sống
lứa đôi và gánh vác vai trò làm mẹ, tôi mới thật sự cảm thông với những nỗi
thống khổ nhọc nhằn và vất vả thầm lặng của người mẹ cả đời bẽ bàng duyên phận
và nghiệm ra rằng bà đáng thương hơn là đáng trách.
Vào giữa
năm 2010, một biến cố chấn động cả dư luận Việt Nam bỗng xảy ra và trở thành
một bí nhiệm lớn lao của Thiên Chúa dành cho riêng tôi. Cho đến tận bây giờ,
mỗi lần suy đi gẫm lại, tôi vẫn còn bàng hoàng đến ngỡ ngàng và rất có thể, khi
đọc đến những đoạn kế tiếp, nhiều độc giả sẽ cho là sản phẩm vẩn vơ của trí
tưởng tượng điên rồ. Bởi lẽ, thay vì dùng gương sáng các Thánh nhân, Thiên Chúa
đã sử dụng một tội ác tày đình của nhân loại như chiếc chìa khóa thần kỳ hầu mở
tung cánh cửa tâm linh của tôi và và phá hủy toàn diện bức rào cản trở đồ sộ
cuối cùng giữa tôi và Ngài.
Sự kiện
ấy chính là vụ án Nguyễn Đức Nghĩa, giết người yêu cũ, và chặt thi thể thành
nhiều khúc để phi tang. Một vụ án được chọn làm án điểm và đã gây xôn xao, ầm ĩ
dư luận một thời. Phần đông, người ta lên án Nguyễn Đức Nghĩa gay gắt nặng nề,
thậm chí cho rằng ngay cả hình phạt tử hình vẫn quá nhẹ đối với anh. Riêng tôi,
biến cố ấy đã gây một cú sốc rất mạnh, đến nỗi làm xoay chuyển cả cuộc đời tôi.
Lý do đơn giản là Nguyễn Đức Nghĩa không hề giống phần lớn các tử tội, thường
có xuất thân bần cùng, bất hảo, thất học. Anh là một tù nhân trí thức, được
sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công Giáo nề nếp. Nguyễn Đức Nghĩa may
mắn sở hữu mọi thứ tôi từng mơ ước cả nửa đời người mà không có, từ mái ấm chan
chứa yêu thương, dung mạo sáng sủa, kỹ năng hoạt ngôn khéo léo, cùng bao nhiêu
thứ tài hoa thiên phú khác. Nhưng kết quả là gì? Cuộc đời của anh có kết cuộc
còn bi đát hơn cả tôi là kẻ không hề có những gì anh đã nắm giữ trong tay!
Như thế,
biến cố Nguyễn Đức Nghĩa đã dần dà hé lộ cho tôi chân lý hiển nhiên của hạnh
phúc. Nói nôm na theo kiểu bình dân, hạnh phúc đích thật không phải là chiếm
đoạt hay sở hữu mọi thứ mình mong muốn, mà là bằng lòng với tất cả những gì
Trời ban cho mình. Lòng ham muốn của con người vốn vô đáy khôn dò. Nếu cứ đợi
cho đến khi đạt được mọi ước nguyện, mình mới hạnh phúc, thì sẽ không bao giờ
mình có hạnh phúc. Diễn tả theo đức tin Kytô Giáo, hạnh phúc đích thật chính là
khả năng nhận chân rằng toàn thể sự hiện hữu của mình là ân huệ, là quà tặng
nhưng không của Thiên Chúa và cảm tạ Ngài.
Tôi mất
nửa cuộc đời, lao đao nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc, để rồi cuối cùng đi đến một
khám phá rất đáng kinh ngạc. Hóa ra hạnh phúc đích thật rất giản đơn, và giản
đơn đến nỗi, bộ não thường quá rắc rối của con người trần thế không đủ sức giác
ngộ, vì người ta nỗ lực tìm cách phức tạp hóa một ý niệm vốn tự nó rất đỗi giản
dị. Hạnh phúc nằm ngay trong tầm mắt, mà lắm phen người ta mù tối, không nhìn
thấy, lại mê mải vói tay về tận cõi hư không! Từ đấy, tôi mới nghiệm ra vì sao Nước Trời chỉ dành cho những
kẻ có tâm hồn thơ ấu (Mt 19,14) và vì sao Chúa định hướng sẵn cho tôi “Con đường thơ ấu thiêng liêng”. Bởi lẽ,
chỉ có tâm hồn trẻ thơ mới mộc mạc đủ, đơn sơ đủ, để thấu suốt mọi chiều kích
sâu thẳm của ý niệm hạnh phúc bình dị. Tôi đã “thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công” (Tv 127:1-2), hùng hục săn lùng cách vô vọng các phương
cách trần thế hòng tự kiến tạo cho mình thứ hạnh phúc phù du giả tạo, rốt cuộc
mới vỡ lẽ ra rằng tất cả bí quyết để đạt đến hạnh phúc viên mãn đều gói trọn
trong hai tiếng “xin vâng” đơn sơ
của Đức Mẹ (Lc 1:38) và thái độ lắng nghe bình dị của bà Maria (Lc 10:38-42)!
Với vụ án
Nguyễn Đức Nghĩa, cuộc đời của tôi đã lật sang một trang mới của những tháng
ngày hạnh phúc bất tận và bình an sâu lắng. Bao nhiêu vết thương lòng rỉ máu,
các ung nhọt lở loét, nhức nhối đến tận xương tủy, tưởng chừng không một bàn
tay nào có thể băng bó hay liều thuốc nào có thể xoa dịu, nay đã lành lặn hẳn.
Ngay cả những vết sẹo sâu hoắm cũng theo ngày tháng dần phai và không để lại
dấu vết gì. Nếu xưa kia, tôi mải miết quay cuồng trong ao ước và nỗ nực tìm
kiếm phương thế chữa lành căn bệnh bẩm sinh quái ác kia, thì bây giờ, tôi thấy
không cần thiết nữa. Với ơn Chúa, tôi không còn gán cho chứng bệnh oan nghiệt
ấy là căn nguyên gốc rễ đẩy đời tôi vào tuyệt lộ của bất hạnh trái ngang .
Ngược lại, tôi chập chững ý thức ra, đó chính là ân huệ cao trọng Chúa ban, là
lộ trình tuyệt hảo Chúa dùng để dẫn đưa thuyền đời tôi cập vào bến bờ của hạnh
phúc viên mãn. Tôi đơn sơ thưa với Ngài: “Nếu
đây là ý Chúa, nếu các nghịch cảnh trái ý và căn bệnh tự kỷ thật sự nằm trong
chương trình Chúa đã hoạch định cho con, xin hãy giúp con chấp nhận và vượt qua.”
Giờ phút này, tôi chỉ cần có Chúa duy nhất trong đời, bởi “Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?” (Tv 16:2).
Ngài chính là Nguồn Mạch của Hạnh Phúc Vĩnh Cửu, là viên ngọc quý giá mà tôi
sẵn sàng đem tất cả gia sản trần thế có được để đánh đổi lấy (Mt 13:45-46).
Theo quan
điểm của y học hiện đại, tự kỷ là chứng rối loạn tâm lý bẩm sinh, chưa có
phương pháp trị liệu toàn diện. Bệnh nhân dứt khoát không thể tự chữa cho mình
vì đây là một thứ tật nguyền nơi não bộ, trung tâm điều khiển mọi cơ chế hoạt
động của con người. Sự can thiệp, hỗ trợ đắc lực của bác sĩ tâm lý kết hợp với
sự cộng tác nhẫn nại, hiểu biết của người thân, thường là cha mẹ, chỉ giới hạn
trong khả năng giúp cho bệnh nhân cải tiến lên phần nào thôi. Tương tự như một
đứa bé kém thông minh, nếu cần cù và được hướng dẫn tận tình, em có thể đạt
thành quả học vấn nào đấy nhưng chắc chắn em sẽ không có cơ may trở thành nhà
bác học tài ba lỗi lạc.
Lạ lùng
thay! Chính lúc tôi chấp nhận vâng phục tuyệt đối kế hoạch an bài của Thiên
Chúa và khước từ toàn thể các bám víu hư ảo trong cuộc đời, cũng là lúc Ngài
khấng ban cho tôi ơn chữa lành thật sự, khởi đầu từ tâm linh, và sau đó cả về
mặt tâm lý, tức tình trạng hồi phục khỏi chứng bệnh tự kỷ rất khó chữa. Quan hệ
giữa tôi với tha nhân, từ người thân đến người lạ, ngày một được cải thiện theo
chiều hướng tốt đẹp và đáng kể. Mọi sự, từ gia đạo đến công ăn việc làm, càng
lúc càng trở nên hài hòa, êm thắm, mặc dầu tôi chẳng chút lao công tổn sức của
riêng mình. Như thế, ơn chữa lành toàn vẹn đối với một căn bệnh mà y học hiện
đại phải bó tay, chính là sự ứng nghiệm kỳ diệu và tuyệt vời cho lời khẳng định
của Chúa Giêsu năm xưa: “Nếu ngươi tin,
ngươi sẽ thấy vinh quang của Thiên Chúa.” (Ga 11:40). Rồi “từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”
(Lc 1:48), vì sau vô số lần hèn nhát trốn chạy, cuối cùng tôi đã có đủ dũng khí
cùng với Đức Trinh Nữ Maria đồng thanh cất lên hai tiếng “xin vâng” (Lc 1:38) và giang tay đón nhận bao hồng phúc chan chứa
từ Đấng Toàn Năng (Lc 1:49).
Vì sao
một Thiên Chúa Toàn Thiện lại cho phép sự dữ tồn tại, thậm chí tự do hoành hành
như thể chính Ngài không hề hiện hữu? Ý nghĩa của sự dữ nằm ở đâu? Vì sao những
kẻ gian ác cứ nhởn nhơ sống trong an lành, trong khi bao nhiêu kẻ công chính
đành phải ngậm thảm nuốt sầu? Đây cũng là dấu hỏi quay quắt của nhân loại mọi
nơi, mọi thời đại và của cả bản thân tôi. Nhưng hôm nay, Thiên Chúa đã đem đến
cho tôi lời giải đáp thỏa đáng. Còn có sự dữ nào tột cùng hơn là cướp mất mạng
sống của người khác? Vậy mà Thiên Chúa đã dùng chính tội ác kinh hoàng nhất của
nhân loại để giải thoát tôi khỏi chốn ngục tù không lối thoát của thống khổ bất
hạnh!
Cho
đến
tận ngày hôm nay, tôi vẫn chưa hoàn hồn khi hồi tưởng đến cái giá được
trả cho
niềm hạnh phúc toàn vẹn của tôi trong hiện tại. Cái giá khủng khiếp ấy
chính là
mạng sống của ba con người, nạn nhân vô tội Nguyễn Phương Linh, bản thân
tử tội
Nguyễn Đức Nghĩa và ông Nguyễn Đức Hùng, bố của anh, đã qua đời vì tai
nạn giao
thông trong lúc chạy đôn đáo vay tiền nộp phạt cho con trai. Bởi lẽ, tôi
sẽ không bao giờ có được sự thay đổi của ngày hôm nay nếu
Nguyễn Đức Nghĩa đã không lỡ tay cắm lưỡi dao oan nghiệt làm lần lượt
tước đi
sinh mạng của ba con người. Vậy là từ đỉnh cao của một tội ác tột cùng
đã để
lại nỗi đau thương mất mát không gì bù đắp được cho người cha mất con
(cha của
Nguyễn Phương Linh), và người thiếu phụ mất cả chồng lẫn con (mẹ của
Nguyễn Đức
Nghĩa), Thiên Chúa đã mang đến hạnh phúc vĩnh cữu cho một kẻ chưa từng
nếm qua
hương vị của hoan lạc như tôi. Quả là “ý
định của Chúa, nào ai biết được” (Kn 9:16-17), một thứ nghịch lý mà trí óc
phàm nhân vô phương mường tượng và hiểu thấu.
“Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho
những ai mến yêu Người” (Rm 8:28). Phải chăng đây chính là lời giải đáp
cánh chung cho sự tồn tại của sự dữ từ Thiên Chúa, Đấng đã “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ
xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất
chính” (Mt 5:45)? Ngài không hủy diệt sự dữ, bởi Ngài quyết ý dùng sự dữ
làm chất liệu để kiến tạo ra sự lành. Ngài không thanh trừng kẻ ác, bởi Ngài
nhất định chinh phục tấm lòng cứng cỏi bằng Thập Giá và Phục Sinh. Thật là sự
khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa Yêu Thương (1Cr 1:21-25)!
Giờ này,
khi tất cả hồi ức về một trải nghiệm đẫm nước mắt trong quá khứ cứ nối tiếp
nhau ùa về như một cuốn film quay chậm, tôi mới lãnh hội hết sự linh nghiệm của
câu châm ngôn dân gian: “Thánh nhân đãi
kẻ khù khờ”. Bà ngoại tôi cho đến giây phút cuối cuộc đời, đã không tài nào
yên lòng nhắm mắt, vì bà quá lo lắng cho tương lai của tôi. Với xác xuất không
thể lấy được chồng và kiếm được việc quá cao, mọi cánh cửa tương lai kể như đã
phũ phàng khép chặt lại trước mặt tôi rồi. Thử hỏi, trong cuộc sống trần thế
này, còn có gì quan trọng hơn là nghề nghiệp và gia thất?
Thế
nhưng, trái hẳn với dự đoán của con người qua lăng kính thế tục, dưới Bàn Tay
Quan Phòng của Cha Trên Trời, Đấng “thừa
biết các ngươi cần tất cả những thứ ấy” (Mt 6:33), cuộc đời của tôi không
hề đến nỗi bi đát như vậy. Đúng là đàn ông con trai gặp qua tôi chỉ một lần,
ông nào ông ấy cũng hết hồn, tháo chạy đến quên cả giày. Thiên Chúa Nhân Từ vẫn
tiên liệu cho tôi kết hôn với người chồng diện mạo sáng sủa, trí thức, rộng
lượng khoan dung, nhất là có khả năng chịu đựng tính khí lập dị của tôi, và
hoàn toàn chấp nhận tôi như tôi là, cứ như thể Chúa đã nhào nặn ra anh cho
riêng tôi. Ngược lại, vài cô bạn của tôi vừa xinh đẹp, vừa khéo léo, vừa giỏi
giang, đành cam chịu cảnh tình duyên lận đận ngang trái. Còn về đường công danh
sự nghiệp, quả là lúc đầu, tôi bị mất việc liên tục, nhưng hễ mất việc này, lập
tức có ngay việc khác. Sau cùng, tôi được nhận vào làm việc cho chính phủ, và
may mắn gặp toàn xếp dễ chịu, kể cả xếp nữ giới. Thỉnh thoảng xui xẻo chạm trán
tay xếp khó chịu, y như rằng, không trước thì sau, hoặc xếp hoặc tôi sẽ đổi
sang bộ phận khác. Chính nhờ môi trường công sở thoải mái, ít bị hoạnh họe, bắt
bẻ, tôi mới được yên ổn trong công ăn việc làm đến ngày hôm nay. Một kẻ thiếu
kỹ năng giao tiếp trầm trọng như tôi, nếu tiếp tục lưu lại với công ty tư nhân,
chắc đêm ngày phải đôn đáo chạy tìm việc mới.
Thật vậy,
quan niệm thuần túy thế tục về hạnh phúc vốn tự nó méo mó, lệch ra khỏi khuôn
mẫu của hạnh phúc viên mãn mà “mắt chẳng
hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên
Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1Cr 2:9). Hạnh phúc trần thế
luôn dừng chân nơi tiền tài, danh vọng, bằng cấp, chức quyền, duyên phận...
Ngược lại, trong ý định yêu thương muôn thuở của Thiên Chúa, tất cả những thứ
ấy chỉ là phương tiện đưa con người đạt tới đỉnh cao của hạnh phúc cánh chung,
tức Nước Trời và sự sống đời đời. Vì vậy, toàn cảnh của miền ký ức đau buồn
lướt nhanh trong trí đã vén mở cho tôi thấy đâu là đầu mối của mọi nỗi bất hạnh
trong đời. Chẳng phải là nghèo khó, thiếu thốn, bệnh hoạn, thất bại, thua lỗ,
duyên tình trắc trở… như tôi thường nghĩ, cho bằng là lòng nhát đảm không dám
đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng “không gì là không thể làm đươc” (Lc 1:37) và “sẽ không để anh em bị thử thách quá sức.” (1Cr 10:13), đơn giản là
vì “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến
tận thế.” (Mt 28:20) và “Ơn của Thầy
đã đủ cho con” (2Cr
12:9) . Chính lòng yếu tin đã che khuất tầm mắt tâm linh của tôi khỏi những dấu
chân yêu thương vô hình được in vết cách nhiệm mầu nơi các biến cố xem ra rất
ngẫu nhiên của dòng đời. Giờ đây, tôi mới đủ sức thấm thía nội dung thâm sâu
trong lời kêu gọi quyết liệt của Đức Giêsu: “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn
tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33).
Song song
vào đấy, khung trời dĩ vãng buồn thương trải dài trước mắt đồng thời cũng giúp
tôi thấu hiểu hết tầm ý nghĩa của hai chữ “khổ
đau”. Đau khổ là nấc thang đi đến hạnh phúc. Bất cứ nẻo đường nào dẫn lối
về chân trời hạnh phúc sung mãn vững bền đều phải xuyên qua vùng đất cằn cỗi, gập
ghềnh, sỏi đá của khổ đau. Ở đời, phàm là con người da trần mắt thịt, ai ai đều
khiếp sợ và tìm cách né tránh đau khổ. Tuy nhiên, người ta không thể thẩm định
giá trị xác thật của hạnh phúc bao lâu chưa trải nghiệm khổ đau. Vì lẽ ấy, lắm
khi, hạnh phúc là thứ người ta chỉ có khái niệm đầy đủ sau khi lỡ tay làm vuột
mất. Phần Thiên Chúa, Ngài không hứa hẹn cất đi các nỗi khổ lụy của thế nhân
nhưng đoan chắc sẽ vỗ về an ủi họ. Quả thế, Ngài đã dành cho một kẻ phải âu sầu
suốt nửa đời người vì chứng bệnh tự kỷ như tôi, lời chúc phúc dẫy tràn trên
những ai khóc lóc ưu phiền (Mt 5:5).
Xưa kia,
tôi thường âm thầm trách móc Chúa vì những an bài cay nghiệt như một thứ áp đặt
phi nhân phi lý của Ngài. Bây giờ, tôi lại nghĩ, giả như tôi có dịp sinh ra đời
một lần nữa, và lần này, Chúa ban cho tôi đặc ân chọn lựa những thứ tôi có thể
sở hữu trong đời, tôi sẽ không ngần ngại thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa, con xin chọn tất cả những gì Ngài
đã chọn cho con, kể cả căn bệnh tự kỷ bẩm sinh ác nghiệt, và kể cả gia cảnh phụ
mẫu tan vỡ trái ngang, bởi vì Chúa không chỉ là Đấng có lòng yêu thương vô biên
mà còn có quyền năng vô tận để nâng con dậy từ đáy vực sâu tối tăm của diệt
vong (Tv 40:3) và gánh vác hộ con mọi tai ách nặng nề của cuộc đời (Mt
11:28-30). Ngài đã lau khô những giọt nước mắt sầu đau của con, và gắn trên môi
con nụ cười tươi vui của hoan lạc vĩnh cửu (Kh 21:4), hầu từ đây, linh hồn con
mãi mãi được ngơi nghỉ trong an bình và hạnh phúc nơi Ngài (Tv 16:11).”
Đối với
Nguyễn Đức Nghĩa, tôi không quan tâm thế giới này nhìn nhận hay đánh giá thế
nào về anh, bởi Thiên Chúa không phán xét con người theo cách thức con người
vẫn dùng để phán xét lẫn nhau. Bản thân tôi và nhiều người tin tưởng rằng anh
có lòng thống hối chân thành, và bấy nhiêu thôi là đủ. Đối với Thiên Chúa,
không có sự hối cải nào là muộn màng cả. Một khi ăn năn, Ngài sẽ tha thứ và có
phương cách nhiệm mầu để biến đổi tất cả hậu quả thối tha của sự dữ thành sự
lành. Tình yêu thương lân tuất của Chúa trổi vượt lên trên lòng người tà vạy và
lòng bao dung hải hà của Ngài phủ lấp mọi tội lỗi xấu xa. Vì vậy trong Ngài,
tâm hồn nhân thế chỉ còn in đậm dấu ấn của an bình và phúc lạc vĩnh hằng làm lu
mờ dấu vết của bao nỗi hối tiếc giày vò.
Tháng 7 năm 2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét